Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

24
LỜI NÓI ĐẦU Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,

Transcript of Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

Page 1: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

LỜI NÓI ĐẦU

Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay

của nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế

thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi

nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các

doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền

kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề

nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát.

Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết

sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn

đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà

doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toàn

bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở

nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,

cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng

cao đời sống nhân dân.

Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan

tâm, nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Đã từ lâu tiền giấy xuất

hiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm

phát. Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả

của hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng

giảm nhanh.

Bài viết này với đề tài: “ Tìm hiểu về Lạm phát ở Việt Nam trong

những năm gần đây và liên hệ tác động của chính sách” Xuất phát từ vấn đề

nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quan

trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức còn hạn chế, em thiết

Page 2: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó một cách

thấu đáo hơn, sâu sắc hơn tài chính tiền tệ

NỘI DUNG

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT

I/ Định nghĩa lạm phát

- Quan niệm cổ điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền vượt quá số

lượng tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này không giải

thích được hiện tượng lạm phát chi phí đẩy (xuất hiện trên thế giới từ những

năm 70 hoặc ở Việt nam năm 2005) do loại lạm phát này vẫn có thể xảy ra

trong khi cung tiền tăng ổnđịnh. Nếu chỉ coi là lạm phát khi sự tăng giá là

kết quả của việc tăng mạnh cung tiền thì sẽ dẫn đến coi thường các nguy cơ

lạm phát có thể xảy ra.

- Một quan điểm phổ biến khác cho rằng: Lạm phát là hiện tượng tăng

lên của mức giá chung (mức giá bình quân, mức giá tổng hợp) theo thời

gian. Tuy nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều đáng lo ngại.

Nếu giá cả chỉ tăng tạm thời,trong ngắn hạn, chẳng hạn như dịp gần Tết

Nguyên đán ở Việt nam, sau đó lại giảm xuống thì đó là kết quả của những

biến động cung cầu tạm thời, nhiều khi có tác dụng tích cực hơn là tiêu cực

tới nền kinh tế. Những trường hợp như vậy mà đã coi là lạm phát thì sẽ dẫn

đến sự cường điệu hoá nguy cơ lạm phát.

- Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là

Milton Friedman đã định nghĩa “lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và

liên tục trong một thời gian dài”. Theo trường phái này, sự tăng lên của mức

Page 3: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất của

lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá đó: đó là sự tăng giá với

tốc độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đến

thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát. Cũng vì vậy,

cái gọi là tỷ lệ tăng giá hàng tháng mà chúng ta có thể nghe trên đài, báo hay

vô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần trăm so với

tháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát. Đó có thể chỉ là sự

thay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo dài. Chỉ

khi nào tỷ lệ tăng giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới được coi là

biểu hiện của lạm phát cao.

II/ Phân loại lạm phát

1) Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm

phát dưới 10% một năm

2) Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh

với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm.

3) Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao

vượt xa lạm phát phi mã, siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm

phát trên 200% .

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

I/ Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và ước tính cho 2010. Chi

tiêu của Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ 5% năm 2000 lên trên 8% từ sau

Page 4: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

năm 2005. Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng lên đến 34% năm 2000 và đến

40% từ năm 2004 đến nay (2007). Từ đây các nhân tố lạm phát được nuôi

dưỡng. Đến hôm nay lạm phát quay trở lại. Năm 2004 đã xuất hiện những

dấu hiệu của cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại vào năm 2005 nhưng

đã không có những giải pháp thoả đáng. Thậm chí đến giữa năm 2007 dấu

hiệu trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bố

mạnh mẽ “lạm phát không thể đến mức hai con số”. Thực tế cho thấy thì lạm

phát năm 2007 khoảng 12%, năm 2008 thi lên đến 22% một con số đáng báo

động cho một nền kinh tế non trẻ như việt nam.Cùng với những biện pháp

kiềm chế lạm phát bước sang năm 2009 lạm đã giảm chỉ con 6%. Dự báo

mới nhất cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2010 ở mức

6%. Lạm phát có thể tăng từ 7% trong năm 2009 lên mức hai con số do tăng

trưởng tín dụng mạnh trong thời gian gần đây. Giá hàng hóa thế giới cao trở

lại cũng sẽ tác động đến giá cả trong nước. Bên cạnh nguy cơ lạm phát lên 2

con số. Đây là một bài toán đau đầu cho các nhà kinh tế làm sao để đạt được

các mục tiêu kinh tế đề ra.

II/Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi xảy ra lạm

phát

Cuộc chiến chống lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giúp phát hiện

hai vấn đề: Một về cơ cấu và một về điều hành kinh tế vĩ mô. Về cơ cấu,

nền kinh tế của chúng ta đang đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng về sung

dụng tài nguyên. Sử dụng tài nguyên không hiệu quả đã làm lãng phí đồng

vốn, lãng phí nhân lực, lãng phí tài nguyên thiên nhiên trong một thời gian

dài. Hệ số ICOR cao (4,5) cho thấy nền kinh tế Việt Nam là một trong

những nền kinh tế có đầu tư kém hiệu quả nhất trong khu vực, và có năng

Page 5: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

lực cạnh tranh rất thấp. Những hệ quả tiếp theo của nó càng ngày càng lộ rõ

như thâm hụt cán cân thương mại ngày càng nghiêm trọng (chỉ riêng năm

tháng đầu năm 2008, con số này đã lên đến 14,4 tỉ USD), khiếm hụt ngân

sách luôn được duy trì ở mức 5% GDP trong nhiều năm, và kết quả tất nhiên

của nó là tốc độ lạm phát của nền kinh tế ngày càng gia tăng (theo một ước

lượng đáng tin cậy, nếu loại trừ tác động tăng giá của thị trường thế giới như

giá dầu và giá lương thực, tốc độ lạm phát do tác động nội tại của nền kinh

tế mà chủ yếu xuất phát từ vấn đề sử dụng tài nguyên không hiệu quả, đã lên

đến từ 8- 10%/năm). Tuy nhiên, giải quyết vấn đề cơ cấu là một việc làm lâu

dài, đòi hỏi một quyết tâm chính trị rất cao. Bài toán về cơ cấu là bài toán

không thể có lời giải một sớm một chiều, nhưng đó là một bài toán phải kiên

trì giải quyết ngay từ bây giờ, vì rằng đó là bài toán sinh tử, quyết định

tương lai phát triển và cường thịnh hay không của nền kinh tế Việt.

Về điều hành kinh tế vĩ mô, chúng ta đang gặp phải các vấn đề trong

chính sách ngân sách và chính sách tiền tệ. Nếu mục tiêu của chính sách

ngân sách vẫn là duy trì một mức khiếm hụt lên đến 5%/GDP tiếp tục trong

thời gian dài, những nỗ lực kiểm soát lạm phát nhằm ổn định kinh tế vĩ mô

sẽ rất khó thành công. Mục tiêu cân bằng ngân sách cần phải là một mục tiêu

được hướng tới kể từ bây giờ. Những nỗ lực chống lạm phát trước hết phải

được thể hiện bởi một quyết tâm từ phía Chính phủ, cụ thể hóa bởi các hành

động tiết kiệm ngân sách: tinh giản bộ máy hành chính, tiết kiệm công chi,

giảm đầu tư công. Tất cả những điều đó sẽ giúp cho việc sung dụng tài

nguyên quốc gia trở nên hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích phát triển

đầu tư tư nhân trong và ngoài nước ngay trong các lĩnh vực cần nguồn vốn

lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác dụng tích

cực hai mặt: giảm thiểu tốc độ lạm phát và tăng cường hiệu quả của việc

sung dụng tài nguyên.

Page 6: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãi

suất và tỷ giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng

và các doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin và

tâm lý lạc quan đã có trước đây của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một

năm trước đây, kỳ vọng lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăng

trưởng của các thị trường: thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị

trường bất động sản, thị trường chứng khoán. Tâm lý lạc quan thái quá có

thể tạo ra sự tăng trưởng bong bóng của một số thị trường nhưng một thái độ

lạc quan vẫn luôn luôn cần thiết để duy trì không những sự tăng trưởng kinh

tế mà cả sự ổn định.

III/ Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam

Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo tổng kết

của IMF thường xuất phát từ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

(CSTT): Sự thâm hụt ngân sách kéo dài được bù đắp bằng việc in tiền,

và/hoặc sự chi tiêu quá mức và thất thoát lớn trong xây dựng cơ bản của

chính phủ sẽ là nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫn

tới tăng cung tiền, tăng đầu tư tín dụng quá mức v.v. cũng là nguyên nhân

gây lạm phát. Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu luôn đòi hỏi sự

phối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài khóa. Xét

trong giác độ điều hành CSTT để kiểm soát lạm phát (lạm phát được coi là

mục tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ phát triển của

thị trường tiền tệ, khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Trung ương

(NHTW) mà NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau để kiểm soát

lạm phát. Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những nước phát triển, là những

Page 7: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

nước có thị trường tiền tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt là những nước

theo đuổi khuôn khổ CSTT hướng tới mục tiêu lạm phát

Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam,

chúng tôi cho rằng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua là do những nguyên

nhân sau:

1. Về phương pháp tính

Phương pháp tính chỉ số CPI của các nước khác với Việt Nam. Một là,

các nước thường loại trừ giá lương thực, dầu mỏ ra khi tính toán...; Hai là,

giá đó là giá giao dịch mua buôn, bán buôn trên thị trường hàng hóa của các

nhà kinh doanh, còn giá bán lẻ cho người tiêu dùng đối với nhiều mặt hàng

thì vẫn ổn định; Ba là, các mặt hàng đó chiếm tỷ trọng nhỏ trong các nhóm

hàng hóa và dịch vụ tính CPI.

2. Điều tiết vĩ mô kém

Một thực tế cần phải thừa nhận là điều tiết vĩ mô của chúng ta trước

những biến động bất thường cả từ trong và ngoài nước để nhằm bình ổn thị

trường trong nước là còn nhiều bất cập. Thí dụ, đến khi giá thuốc tân dược

leo thang hàng ngày và được bán ở mức rất cao, gây rối loạn thị trường

thuốc chữa bệnh, lúc đó chúng ta mới nghĩ đến vấn đề dự trữ quốc gia về

thuốc tân dược.

3. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước

Tổng phương tiện thanh toán, bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền

gửi tại ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (nội và ngoại tệ). Nhân tố

này về nguyên lý là thường tác động có độ trễ, tức là tổng phương tiện thanh

toán tăng lên trong kỳ này, thì ảnh hưởng của nó phát sinh ở kỳ sau, trong

ngắn hạn là 6 tháng, trung và dài hạn thường là từ 1 năm trở lên. Trong 14

Page 8: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

năm qua, mức tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân 23%-26%/năm,

phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và không thấy tác động rõ rệt về lạm

phát, cũng như giảm phát.

4. Do cầu kéo

Trong những năm qua, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường,

hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước dồi dào, đa dạng và phong

phú. Do đó hầu như không có tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường

dẫn tới tăng giá một hay một số mặt hàng nào đó. Song trong năm 2004, do

ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm xẩy ra trên diện rộng và kéo dài, đã làm

giảm mạnh nguồn cung sản phẩm gia cầm, trong khi nhu cầu thực phẩm tiếp

tục tăng lên, làm cho giá cả mặt hàng gia cầm nói riêng tăng đột biến.

5. Do chi phí đẩy

Nhân tố này chủ yếu là do giá cả các mặt hàng mà Việt Nam nhập

khẩu trên thị trường thế giới tăng lên, tập trung là giá xăng dầu, phôi thép,

nguyên liệu nhựa, phân đạm Urê, bột giấy, thuốc chữa bệnh, vật phẩm y

tế..., làm cho giá bán lẻ trong nước cũng tăng lên. Chỉ riêng mặt hàng xăng

dầu trong năm 2004 đã được điều chỉnh tăng 4 lần.

6. Do tâm lý dân chúng

Khi thị trường bất động sản ở Việt Nam đang rối loạn, giá cả một số

mặt hàng đang leo thang hàng ngày, gây tâm lý bất ổn trong dân chúng thì

tiếp đó (đầu năm 2004).

CHƯƠNG III : LIÊN HỆ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH

SÁCH VÀ GIẢI PHÁP

Chính phủ nhất trí điều chỉnh mục tiêu chống lạm phát và mức tăng

trưởng trong năm 2008 thích hợp trong tình hình mới và nêu 5 giải pháp cần

Page 9: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

tập trung chỉ đạo và điều hành nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ

mô, đảm bảo an sinh xã hội và duy trì tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.

I/ Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng

Chính phủ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng theo nguyên

tắc thị trường một cách chặt chẽ, chủ động và linh hoạt, bảo đảm mục tiêu

chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động các nguồn vốn

phục vụ phát triển kinh tế.

Thời gian gần đây báo chí liên tục đưa tin về việc Ngân hàng Nhà

nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, NHTM tăng lãi suất tiền gửi, siết

chặt cho vay... với mục tiêu chung là kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế. Tuy

nhiên cái giá phải trả cho việc thực hiện những chính sách này không rẻ chút

nào.

Ngay từ tháng 1-2008, tình hình vốn tiền đồng của các ngân hàng

thương mại đã căng thẳng, ngay từ đầu năm mới, lãi suất liên ngân hàng đã

có lúc lên đến 25%. Nhiều ngân hàng đã liên tục điều chỉnh lãi suất theo

hướng tăng lên, có nơi điều chỉnh biểu lãi suất 2-3 lần trong một tháng. Như

vậy, quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông bằng tín phiếu sẽ tiếp thêm năng

lượng cho cuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng.

Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp,Trong điều kiện thị trường chứng

khoán đầu năm 2008 vẫn chưa mấy khởi sắc, liên tục các quy định thắt chặt

tiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư là NHNN đang “hy sinh thị trường

chứng khoán” để chống lạm phát.

Đồng Việt Nam sẽ tiếp tục lên giá Lãi suất tiền đồng (VND) được đẩy

lên cao trong tình hình lãi suất đô la Mỹ (USD) trên thế giới đang giảm sẽ

tạo áp lực giảm giá lên đồng USD so với VND.

II/ Giảm thâm hụt ngân sách nhà nước

Page 10: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

Tăng thu gắn liền với thắt chặt, tiết kiệm chi tiêu, nâng cao hiệu quả

sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, hạn chế bội chi ngân sách. Thủ

tướng yêu cầu hệ thống chính trị phải gương mẫu thực hiện tiết kiệm 10%

chi thường xuyên; cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết; thực hiện các

biện pháp tiết kiệm xăng, dầu; rà soát và giảm các hạng mục, công trình

chưa thật bức thiết, đồng thời kêu gọi nhân dân thực hành tiết kiệm tiêu

dùng.

Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công Chính sách

giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần thiết nhưng

chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lực

nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư còn

lại có hiệu quả.

Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu,

Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân

sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững

từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế

thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi

con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động

sản.

III/ Cân đối cung cầu trong nền kinh tế

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành phải chịu trách nhiệm đảm bảo cân

đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất như xăng,

dầu, gạo, thuốc, xi măng, sắt, thép, phân bón... gắn liền với kiểm soát chặt

chẽ giá cả. Khẳng định không tăng giá bán than cho ngành điện, không tăng

giá điện và giá xăng dầu. Nhà nước tiếp tục bù lỗ cho các mặt hàng này

nhằm ổn định giá.

Page 11: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh

để duy trì tăng trưởng. Phấn đấu với tinh thần cao nhất để giải quyết vốn cho

các doanh nghiệp, nhất là vốn lưu động. Thủ tướng cũng chỉ đạo các Bộ

ngành tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, các

Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của các tập

đoàn, Tổng công ty thuộc bộ mình quản lí.

IV/ Ổn định giá cả thị trường

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, chính quyền các địa phương, hiệp

hội các ngành hàng tăng cường các biện pháp quản lý thị trường giá cả, tổ

chức tốt thương mại trong nước, kêu gọi các doanh nghiệp có trách nhiệm

với đất nước không đầu cơ trục lợi và tăng giá các mặt hàng. Chính phủ đã

xác định nguyên tắc ưu tiên là từ nay đến cuối năm kiềm chế lạm phát, ổn

định kinh tế vĩ mô, tạo đà cho những năm tiếp theo, đảm bảo an sinh xã hội.

Và trong việc ổn định giá các mặt hàng thiết yếu, Thủ tướng đã chỉ đạo, với

mặt hàng xăng dầu, trong bất cứ thời điểm nào, địa điểm nào cũng phải đảm

bảo nguồn cung tổng thể. Trong trường hợp có diễn biến bất thường, Chính

phủ sẽ nghiên cứu biện pháp hợp lý để giải quyết. Điều này cho thấy Chính

phủ luôn xác định ưu tiên chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu, nhất là đối

với xăng dầu – mặt hàng thiết yếu hàng đầu của nền kinh tế.

Với mặt hàng than, Bộ Tài chính đang nghiên cứu xây dựng phương

án và lộ trình chặt chẽ về giá than trong thời gian tới, trong đó, quy định giá

bán than cho từng hộ tiêu thụ lớn.

Điện giữ giá ổn định từ nay đến hết năm thì giá than bán cho điện

cũng phải ổn định. Đó là điều đương nhiên. Còn than bán cho sản xuất xi

măng, cho sản xuất phân bón, và ngành sản xuất giấy cũng đang được Bộ

Tài chính tính toán xây dựng lộ trình, bước đi cho phù hợp với điều kiện

Page 12: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

hiện nay, trên cơ sở kiềm chế tăng giá tiêu dùng và chống lạm phát là mục

tiêu hàng đầu.

với Hiệp hội xi măng quy định thống nhất cách quản lý giá bán trên

thị trường. Vụ trưởng Vụ quản lý vật liệu xây dựng – Bộ Xây dựng, Còn với

mặt hàng thép, trước đề nghị mới đây của Hiệp hội Thép Việt Nam về điều

chỉnh tăng giá bán thép xây dựng trước việc giá phôi thép trên thị trường thế

giới tăng cao, quan điểm của Chính phủ là chưa ủng hộ việc tăng giá thép.

Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đang tiếp tục thực hiện

nhiều biện pháp để ổn định thị trường phân bón.

V/ Đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu

Tìm mọi cách đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu. Thủ tướng

nhấn mạnh, không có xuất khẩu thì không có tăng trưởng nên tập trung đẩy

mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh như thuỷ sản, dệt may và

da giầy... Chính phủ sẽ kiểm soát quyết liệt nhập siêu bằng cả biện pháp thị

trường và hành chính vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Bộ Công thương

nghiên cứu hạn chế nhập siêu các mặt hàng không thiết yếu như ô tô nguyên

chiếc, phụ tùng xe máy... phấn đấu kiểm soát nhập siêu trong năm 2008

tương đương năm ngoái, tiến tới cân bằng cán cân thương mại

Trong đó, 11 tỷ USD là con số nhập siêu trong bốn tháng đầu năm,

chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Do đó, Thủ tướng yêu cầu phải đẩy

mạnh xuất khẩu, tránh mất cân bằng cán cân thanh toán. Ngoài ra, Thủ

tướng cũng chỉ đạo Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn tập trung quản lý chặt việc kiểm soát giá các mặt hàng xăng, dầu, lương

thực, thực phẩm. “Bộ Công thương kiểm soát chặt chẽ tình hình giá cả tại

các địa phương, Bộ Công an phối hợp với các cơ quan xử lý nghiêm các

trường hợp đầu cơ, nâng giá trục lợi

Page 13: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

VI/Chính sách tỷ giá hối đoái và biện pháp thu hút USD

trong việc giảm lạm phát

Các công cụ lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở đã không thành công

và gây nên nhiều biến động khó lường. Lạm phát cần phải có một phương

thuốc mới để điều trị phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Cần nhớ rằng,

khi tỷ giá giảm thì cái lợi đầu tiên là chúng ta sẽ nhập khẩu nguyên, nhiên

liệu với giá rẻ hơn, dẫn đến chi phí sản xuất trong nước giảm làm cho giá cả

hàng hóa trong nước giảm. Cái lợi thứ hai là xuất khẩu giảm, nhập khẩu

tăng cũng sẽ làm tăng tổng cung cho nền kinh tế trong nước. Tác động gộp

của các yếu tố này có thể làm giảm lạm phát . Em cho rằng các biện pháp

trên là thích hợp, lợi ích chúng ta nhận được là giảm lạm phát và chi phí sản

xuất, giảm lượng USD quá nhiều mà nền kinh tế chưa thể hấp thụ hết, ổn

định tâm lý của người dân và bảo đảm tính thanh khoản của ngân hàng trong

khi chỉ phải trả một khoản thiệt hại cho thâm hụt cán cân thương mại hay

giảm tốc độ tăng trưởng. Như vậy, nền kinh tế vẫn còn lời?

KẾT LUẬN

Chúng ta nhận thức rằng quá trình đấu tranh chống lạm phát không

đơn giản ngày một ngày hai.Nó là căn bệnh kinh niên nhưng việc xóa bỏ

lạm phát hoàn toàn thì cái giả phải trả không tương xứng với lợi ích đem

lại.Tình hình diễn biến lạm phát và khắc phục nó tại Việt Nam rất phức

tạp. Lạm phát đã hoành hành công khái khi Việt Nam tiến hành cải cách

kinh tế xã hội, xóa bỏ bao cấp, quan liêu. Sự cải cách không đồng bộ giữa

giá cả và quản lý kinh tế dẫn đến khủng hoảng trầm trọng. Thành công

trong cuộc chống lạm phát 1989 và các biện pháp kiềm chế lạm phát năm

2008 đưa nước ta vượt lên chính là sự đổi mới trong nhận thức quản lý

Page 14: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

kinh tế của Đảng và nhà nước ta. Kinh tế ổn định đã làm tiền đề cơ sở cho sự

thành công của các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, chính trị…

những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được trong công cuộc chống lạm

phát cũng không vì thế mà chúng ta chủ quan, nới lỏng.

Lạm phát luôn rình rập và đe dọa chúng ta bất cứ lúc nào. Chính vì

vậy Đảng và nhà nước cần phải luôn thận trọng trong mỗi bước đi của mình

để đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển vững mạnh làm nền tảng để

phát triên khoa học, giáo dục, đuổi kịp sự phát triển của các nước trong khu

vực nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Điều này không chỉ của

riêng ai mà một phần không nhỏ dành cho các nhà doanh nghiệp trẻ góp

phần làm rạng danh đất nước trong nhiều năm tới này. Lạm phát đang là vấn

đề nổi cộm trong lý thuyết Tài chính- Tiền tệ. Em đã cố gắng tới mức cao

nhất hoàn thành đề án trong khả năng của mình. Bài viết này chỉ là những

thu nhặt bước đầu mang tính chất cơ sở cho việc phát triển nhận thức sau

này.

Em hy vọng đây là cách tiếp cận có hiệu quả trong quá trình tìm

hiểu nền kinh tế nói chung và lạm phát nói riêng

Page 15: Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình Tài Chính- Tiền

2.Tiền Tệ Ngân Hàng và thị trường Tài Chính – Mishkin.

3.Bài giảng Tài Chính -Tiền Tệ -

4.Các trang web:

http://dantri.com.vn/

http:// tapchicongsan.org.vn/

http://taichinhvietnam.com/

http://vietbao.vn/